Chào mừng đến với blogger của tôi
Họ và tên : Vũ Vinh Phú
Lớp : D104AK12
MSV : 2000013
Thông tin liên hệ :
Email : vinhphu7122k1hkt@gmail.com
Facebook : https://www.facebook.com/vinh.phu.758
I. Khái niệm TMĐT, bổi cảnh TMĐT trên thế giới và Việt Nam .
* Khái quát về TMĐT
a) Bối cảnh thương mại điện tử ra đời.
- Sự phát triển nhanh chóng của khoa học, công nghê, đặc biệt là sự phát triển của công nghệ mạng máy tính và kỹ thuật tính toán đã làm thay đổi rất nhiều các hoạt động xã hội. Thương mại điện tử đã ra đời trong bối cảnh đó. Tính hiệu quả và thuận lợi của hoạt động thương mại điện tử ngày càng được khẳng định. Đã có những dự báo rất khả quan về hoạt động thương mại điện tử.
b) Khái niệm về TMĐT
- Theo tổ chức luật thương mại quốc tế đưa ra định nghĩa: TMĐT là việc trao đổi thông tin thương mại thông qua các phương tiện điện tử và không cần phải viết ra giấy bất cứ công đoạn nào của quá trình giao dịch.
II. Các mô hình thương mại điện tử .
* Các loại mô hình TMĐT ( phân loại theo bản chất của giao dịch)
- Doanh nghiệp với doanh nghiệp (B2B-Business to Business) : Trao đổi giữa doanh nghiệp với doanh nghiệp thông qua các trang web, các phương tiện thông tin hiện đại, các tiêu chuẩn về mã vạch, mã số, trao đổi dữ liệu điện tử (EDI) để thực hiện hai hình thức giao dịch cơ bản:
+ Giao dịch thông tin giữa các tổ chức (IOS); các giao dịch trên thị trường điên tử.
+ Trao đổi dữ liệu về quản lý tài chính, nhân sự, marketing và hậu cần sản xuất giữa các doanh nghiệp.
- Doanh nghiệp với khách hàng ( B2C - Business to Customer ) : Giao dịch giữa doanh nghiệp với khách hàng qua các mẫu biểu điện tử, thư điện tử, điện thoại, trang web với các hình thức chủ yếu như:
+ Sưu tầm thông tin về hàng hóa và dịch vụ trên trang web.
+ Đặt hàng; thanh toán các khoản chi tiêu mua sắm hàng hóa và dịch vụ.
+ Cung cấp các hàng hóa và dịch vụ trực tuyến cho khách hàng như bán lẻ hàng hóa, dịch vụ du lịch, dịch vụ văn phòng , chăm sóc sức khỏe, tư vấn, giải trí.
- Khách hàng với khách hàng ( C2C - Customer to Customer ) : Mua bán trực tiếp giữa các khách hàng thông qua các trang web cá nhân, điện thoại, thư điện tử như:
+ Bán các tài sản cá nhân trên mạng.
+ Dịch vụ quảng cáo trên internet.
+ Thực hiện các dịch vụ tư vấn cá nhân, chuyển giao tri thức qua mạng.
+ Các cuộc bán đấu giá do một hoặc một số cá nhân thực hiện trên mạng.
+ Thương mại ngân hàng điện tử (E. bank trade).
+ Các cá nhân sử dụng trang web riêng để quảng cáo hàng hóa và dịch vụ để bán.
- Khách hàng với doanh nghiệp ( C2B - Customer to Business ) : Các cá nhân bán hàng hóa hay dịch vụ cho doanh nghiệp hoặc một số cá nhân hợp tác với nhau để thực hiện các giao dịch kinh doanh với các doanh nghiệp.
- Nonbusiness EC (Nonbusiness electronic commerce) : Các tổ chức phi kinh doanh tham gia vào thương mại điện tử như các cơ quan khoa học, các tổ chức phi lợi nhuận, các tổ chức tôn giáo, tổ chức xã hội, các cơ quan của chính phủ.
III. Các giai đoạn phát triển thương mại điện tử .
* Các giai đoạn phát triển TMĐT
- Giai đoạn 1:
+ Các đơn vị tham gia vào TMĐT bằng cách xây dựng các trang web và kết nối với Internet để khách hàng có thể truy cập mọi lúc mọi nơi.
+ Các trang web này chỉ nhằm mục đích giới thiệu sản phẩm, quảng bá dịch vụ hoặc giới thiệu hàng hóa. Bước đầu đã làm thay đổi mối quan hệ giữa người mua và người bán, đã tạo ra liên kết mới giữa cung và cầu. Tuy nhiên, giai đoạn này chưa đáp ứng được nhu cầu trao đổi thông tin trực tuyến hai chiều giưa người bán và người mua.
- Giai đoạn 2 :
+ Các hệ thống đã được tích hợp hệ thống tin kinh doanh điện tử ( EDI - Electronic Dât Interchange ) cùng máy chủ web để cung cấp dịch vụ Internet.
+ Thông tin đặt hàng sẽ được tiếp nhận và chuyển đến hệ thống xử lý đơn hàng. Tại mức này hồ sơ khách hàng sẽ được thiết lập, chương trình sẽ tự động gửi email chào hàng đến từng khách hàng trong danh sách.
* Tuy nhiên, trong giai đoạn 2 yêu cầu của khách hàng vẫn chưa được đáp ứng do có nhiều website của nhiều loại hình doanh nghiệp trên Internet và bản thân khách hàng không thể tìm thấy thông tin họ cần một cách nhanh chóng.
- Giai đoạn 3 :
+ Không bị vướng vào trang web mà tập trung vào khách hàng, thông tin sẽ chuyển trực triếp tới từng khách hàng không phân biệt khoảng cách và thời giai. Hệ thống TMĐT ở giai đoạn 3 sẽ tự động biết khách hàng cần thông tin gì và nó sẽ gửi thông tin đó tới khách hàng.
+ Ở giai đoạn này sẽ cho phép các ứng dụng tự động tương tác với nhau. Các ứng dụng này có thể tự động truy cập và thay đổi với nhiều nguồn tin cùng một lúc trên nhiều máy chủ khác nhau và đồng bộ hóa thông tin này.
IV. Các phương thức thanh toán trong TMĐT .
A. Các phương thức thanh toán trong TMĐT
- Có 5 phương thức thanh toán trực tuyến trong giao dịch TMĐT:
+ Thẻ tín dụng .
+ Thẻ ghi nợ .
+ Két tiền điện tử .
+ Thanh toán qua thư điện tử .
B. Các phương thức thanh toán ( ví điện tử ) trong TMĐT ở Việt Nam :
+ Ví điện tử Bảo kim
+ Ví điện tử Moca
+ Ví điện tử Ví Việt
+ Ví điện tử Momo
+ Ví điện tử Zalopay
+ Ví điện tử Airpay
+ Ví điện tử Viettelpay
+ Ví điện tử VTC pay
+ Ví điện tử Bankplus
+ Ví điện tử Payoo
+ Ví điện tử Vimo
+ Ví điện tử True money
+ Ví điện tử Ngân Lượng
+ Ví điện tử Wepay
C. Khi thực hiện các giao dịch điện tử có thể gặp các nguy cơ nào ? Và làm thế nào để phòng tránh nó ?
a) Các nguy cơ thường gặp phải :
1. Tính pháp lí chưa rõ ràng.
- Hiện nay trên thị trường có rất nhiều đơn vị phát hành ví điện tử khác nhau như : ZaloPay, Momo, Payoo, Ngân lượng, Bảo Kim..... Nhưng chưa có sự liên kết giữa các tổ chức này với nhau hoặc chưa có chế tài hay bộ luật nào quy định về tính pháp lí hạn chế những rủi ro phát sinh bởi ví điện tử. Bên cạnh đó một khách hàng có thể sở hữu từ 2 đến nhiều tài khoản ví điện tử khác nhau. Điều này dẫn đến sự cố ảnh hưởng đến tính bảo mật thông tin của tài khoản ví điện tự sẽ khó quy trách nhiệm và sử phát thích đáng.
2. Mất tiền do cung cấp mật khẩu qua điện thoại.
- Không ít trường hợp khách hàng bị mất thông tin tài khoản ví điện tử bởi việc cung cấp mật khẩu qua điện thoại cho các đối tượng lừa đảo. Chúng hoạt động tinh vi với nhiều hình thức khác nhau.
3. Bảo mật thông tin ví điện tử.
- Hầu hết các ví điện tử hiện nay đều được bảo mật thông tin 2 lớp qua mật khẩu đăng nhập 4 đến 6 số hoặc nhận mã xác nhận OTP qua tin nhắn hoặc cuộc gọi tổng đài đơn vị phát hành ví điện tử.
b) Cách phòng tránh.
- Không cung cấp mã OTP mật khẩu cho bất kì ai dưới mọi hình thức, kể cả chụp ảnh màn hình.
- Không để lại số điện thoại, CMND, hình ảnh thông tin tài khoản trên mạng xã hội, không để mật khẩu dễ đoán.
V. Các vấn đề an ninh an toàn trong TMĐT .
A . Có các kiểu xâm nhập hệ thống nào ? Và kiểu xâm nhập nào gây thiệt hại lớn nhất trong lĩnh vực bán hàng online ?
- có 10 kiểu xâm nhập hệ thống:
- Theo em kiểu xâm nhập Gián đoạn giao dịch gây thiệt hại lớn nhất trong lĩnh vực bán hàng online.
- Ví dụ:
+ shipper bùng hàng mất hàng khi giao dịch
+ lỗi thẻ ngân hàng khiến người mua không thanh toán được tiền mua hàng
B . Các biện pháp đảm bảo an ninh, an toàn trong giao dịch thương mại điện tử .
⁂Kết luận
- An toàn an ninh mạng là một vấn đề hết sức quan trọng và ảnh hưởng rất to lớn đến các vấn đề riêng tư và các hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp và cá nhân nên chúng ta cần phải sử các biện pháp và hiệu quả tốt nhất về bảo vệ an ninh mạng.
VI. Cớ sở pháp lý của TMĐT .
A. Thực trạng về các vấn đề pháp lý trong thương mại điện tử :
- Các vấn đề pháp lý trong TMĐT liên quan đến nhiều quy định pháp luật thuộc các lĩnh vực khác nhau:
+ Trong TM truyền thống, các bên thường gặp nhau trực tiếp để tiến hành giao dịch hoặc là những người đã quen biết nhau từ trước.
+ Còn trong TMĐT, các chủ thể không tiếp xúc trực tiếp với nhau và không đòi hỏi phải biết nhau từ trướ. Các giao dịch TM truyền thống được phân định rõ ràng về ranh giới quốc gia, trong khi đó TMĐT lại được thực hiện trong môi trường hay thị trường phi biên giới.
- Tuy nhiên TMĐT không thể thực hiện được nếu không có người thứ ba là các nhà cung cấp dịch vụ mạng. Nếu như trong TM truyền thống mạng lưới là phương tiện để trao đổi thông tin thì trong TMĐT mạng lưới Internet chính là một thị trường. Do vậy các vấn đề pháp lý nảy sinh trong thị trường ảo là hoàn toàn khác. Một số vấn đề sau đây sẽ nói về thực trạng hiện nay của khi áp dụng TMĐT vào nó :
1) Vấn đề pháp lý trong đảm bảo an toàn và độ tin cậy cho các giao dịch TMĐT.
2) Bảo đảm tính riêng tư.
3) Các vấn đề về hợp đồng
4) Bảo vệ người tiêu dùng
5) Các yêu cầu hình thức, văn bản, chữ ký văn bản gốc.
6) Thời điểm, địa điểm gửi, nhận thông điệp điện tử
B. Luật khung về TMĐT của thế giới :
- TMĐT đã và đang chở thành một xu thế trong bối cảnh hội nhập kinh tế toàn cầu. Tốc độ tăng của lượng người sử dụng Internet đã góp phần đưa TMĐT trở thành công cụ để doanh nghiệp quảng bá hình ảnh, nâng cao sức cạnh tranh một cách hiệu quả. Các hình thức thanh toán thông qua TMĐT ngày càng cải thiện, nhanh chóng và dễ dàng hơn. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy các hoạt động TMĐT ngày càng đa dạng về hình thức và phức tạp về tính chất đòi hỏi có khung pháp lý quản lý phù hợp với loại hình này .
- Xây dựng khung pháp lý cho TMĐT là việc rất cần thiết. Để hỗ trợ các hoạt động TMĐT, nhiều nước trên thế giới đều đã xây dựng khung pháp lý riêng, dựa trên những khái niệm và những nguyên tác cơ bản của bộ luật mẫu về TMĐT của Ủy Ban Pháp luật thương mại quốc tế - Liên hợp quốc ( UN Commision on International Trade Law - UNCITRAL ) soạn thảo năm 1996 .
- Bộ luật này cung cấp các nguyên tắc có tính quốc tế, giải quyết một số trở ngại, nhằm tạo ra môi trường an toàn về pháp lý cho các hoạt động TMĐT .
- Nói chung , các nhà luật pháp thế giới khi dựng luật liên quan đến TMĐT đều chú trọng những nội dung chính như :
@ Các giao dịch điện tử .
@ Chữ ký điện tử .
@ Bảo vệ dữ liệu và quyền riên tư .
@ Bảo vệ người tiêu dùng .
@ Tội phạm máy tính, quyền sở hữu trí tuệ .
@ Khả năng cạnh tranh .
@ Thuế và an ninh thông tin .
C. Luật TMĐT và an ninh mạng ở Việt Nam :
* Luật TMĐT :
- Hội nhập quốc tế tại Việt Nam thúc đẩy quá trình hoàn thiện hệ thống pháp luật, trong dó có việc xây dựng các văn bản pháp luật liên quan đến TMĐT.
1) Luật giao dịch điện tử .
- Luật giao dịch điện tử được thông qua ngày 29/11/2005 và có hiệu lực từ ngày 1/03/2006. Phạm vi điều chỉnh của luật khá rộng: Giao dịch điện tử trong hoạt động của các cơ quan nhà nước và giao dịch điện tử trong lĩnh vực dân sự, kinh doanh, thương mại.
+ Luật này bao gồm nhiều các quy định về :
·Thông điệp dữ liệu, chữ ký điện tử và chứng thực chữ ký điện tử
·Giao kết và thực hiện hợp đồng điện tử
·An ninh, an toàn, bảo vệ, bảo mật trong giao dịch điện tử
·Giải quyết tranh chấp và xử lý vi phạm trong giao dịch điện tử.
2) Luật thương mại .
- Luật thương mại ( sửa đổi ) được thông qua ngày 14/06/2005 và có hiệu lực từ ngày 01/01/2006 là cơ sở quan trọng đối với các hoạt động thương mại, bao gồm TMĐT.
- Luật này quy định: Trong hoạt động thương mại, các thông điệp lưu dữ liệu đáp ứng các điều kiện, tiêu chuẩn kỹ thuật theo quy định của pháp luật thừa nhận có giá trị pháp lý tương đương văn bản. Ngoài ra, việc trưng bày, giới thiệu hàng hóa, dịch vụ.
3) Bộ luật dân sự .
- Bộ luật dân sự 2005 có quy định về hình thức giao dịch dân sự: Giao dịch dân sự thông qua phương tiện điện tử dưới hình thức thông điệp dữ liệu được coi là giao dịch bằng văn bản. Đối với các trường hợp ( giao kết hợp đồng, sửa đổi hợp đồng, thực hiện hợp đồng, huỷ bỏ hợp đồng ): Thời điểm giao kết hợp đồng là thời điểm bên đề nghị nhận được trả lời chấp nhận giao kết. Địa điểm giao kết hợp đồng dân sự do các bên thoả thuận, nếu không thoả thuận thì địa điểm giao kết hợp đồng dân sự là nơi cư trú của cá nhân hoặc trụ sở của pháp nhân đưa ra đề nghị giao kết hợp đồng. Những khái niệm quan trọng này được tính đến khi giao kết và thực hiện hợp đồng qua mạng Internet.
4) Luật hải quan .
- Luật Hải quan (sửa đổi) được thông qua ngày 14/06/2005 và có hiệu lực từ
ngày 01/01/2006 bổ sung một số quy định như trình tự khai hải quan điện tử, địa điểm khai, hồ sơ hải quan điện tử, thủ tục hải quan đối với hàng hoá xuất nhập khẩu qua phương thức thương mại điện tử.
5) Luật sở hứu trí tuệ .
- Luật sở hữu trí tuệ năm 2005 và có hiệu lực từ ngày 01/07/2006 đánh dấu mốc quan trọng hoàn thiện hệ thống pháp luật về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ. -Trong luật này có một số điều khoản liên quan đến thương mại điện tử, như các quy định về; Hành vi xâm phạm quyền tác giả, xâm phạm quyền liên quan trong môi trường điện tử (cố ý huỷ bỏ, thay đổi thông tin quản lý quyền dưới hình thức điện tử có trong tác phẩm hoặc ỡ bỏ hoặc thay đổi thông tin quản lý quyền dưới hình thức điện tử mà không được phép của chủ sở hữu quyền liên quan). Tuy không có quy định cụ thể nào liên quan đến lĩnh vực thương mại điện tử, nhưng các nguyên tắc trong Luật Sở hữu trí tuệ vẫn có thể được áp dụng đối với lĩnh vực thương mại điện tử.
* An ninh mạng ở Việt Nam
- Ngày nay, an ninh thông tin đã và đang đi vào mọi ngõ ngách của đời sống xã hội và dần trở thành một bộ phận quan trọng của an ninh quốc gia. Nguy cơ gây mất an ninh thông tin là mối đe dọa lớn và ngày càng gia tăng đối với an ninh quốc gia. Bài viết tập trung phân tích, làm rõ tình hình an ninh thông tin ở Việt Nam trong điều kiện hiện nay, chỉ rõ những vấn đề đang đặt ra trong bảo đảm an ninh thông tin và các giải pháp trọng tâm nhằm nâng cao hiệu quả bảo đảm an ninh thông tin của Việt Nam thời gian tới.
-Trải qua 35 năm đổi mới, hệ thống thông tin của Việt Nam có sự phát triển mạnh mẽ, phục vụ đắc lực sự lãnh đạo, quản lý, điều hành của Đảng, Nhà nước, đáp ứng nhu cầu thông tin của xã hội, góp phần đảm bảo quốc phòng, an ninh của đất nước.
-Tuy nhiên, tình hình an ninh thông tin ở Việt Nam đã và đang có những diễn biến phức tạp. Các cơ quan đặc biệt nước ngoài, các thế lực thù địch, phản động tăng cường hoạt động tình báo, gián điệp, khủng bố, phá hoại hệ thống thông tin; tán phát thông tin xấu, độc hại nhằm tác động chính trị nội bộ, can thiệp, hướng lái chính sách, pháp luật của Việt Nam hiện nhiều dịch vụ mới, hiện đại gây khó khăn cho công tác quản lý, kiểm soát của các cơ quan chức năng. Hệ thống thông tin của Việt Nam vẫn còn tồn tại nhiều điểm yếu, lỗ hổng bảo mật dễ bị khai thác, tấn công, xâm nhập; tình trạng lộ, mất bí mật nhà nước qua hệ thống thông tin gia tăng đột biến; hiện tượng khai thác, sử dụng trái phép cơ sở dữ liệu, tài nguyên thông tin quốc gia, dữ liệu cá nhân người dùng diễn biến phức tạp; xuất hiện nhiều dịch vụ mới, hiện đại gây khó khăn cho công tác quản lý, kiểm soát của các cơ quan chức năng.
-Thực tế nêu trên đã làm xuất hiện nhiều nguy cơ đe dọa đến an ninh thông tin của Việt Nam ở cả bên trong và bên ngoài. Ở trong nước, trước hết là nguy cơ tụt hậu về công nghệ, lệ thuộc vào công nghệ của nước ngoài, nhất là hệ thống mạng lõi; phần mềm hệ thống, dịch vụ thông tin của nước ngoài ( nhất là dịch vụ mạng xã hội ) dẫn tới mất chủ quyền nội dung số, tài nguyên thông tin về các công ty công nghệ nước ngoài ngày càng nghiêm trọng hơn; các đối tượng cơ hội, chống đối chính trị trong nước, triệt để sử dụng mạng xã hội tán phát thông tin giả, thông tin xấu, độc nhằm gây rối nội bộ, kích động biểu tình, bạo loạn.
- Ở bên ngoài, các thế lực thù địch triệt để sử dụng hệ thống thông tin để tác động, can thiệp nội bộ, hướng lái chính sách, thao túng dư luận, thúc đẩy “cách mạng màu” ở Việt Nam; xâm phạm độc lập, chủ quyền quốc gia trên không gian mạng, tiến hành chiến tranh thông tin đối với Việt Nam. Các tổ chức phản động lưu vong, khủng bố tăng cường hoạt động tấn công, phá hoại hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia; sử dụng không gian mạng để tán phát thông tin xấu, độc hại, kích động biểu tình, bạo loạn; hình thành các hội, nhóm, các tổ chức chính trị đối lập,... Các tổ chức tin tặc, tổ chức tội phạm thực hiện các cuộc tấn công mạng tự phát, đơn lẻ hoặc có chủ đích nhằm vào hệ thống thông tin trọng yếu quốc gia, làm tê liệt, gây gián đoạn hoạt động lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành, quản lý kinh tế-xã hội của các cơ quan Đảng, Nhà nước.
*Trong thời đại cách mạng công nghiệp 4.0, an ninh thông tin ngày càng trở thành một nội dung quan trọng của an ninh quốc gia. Nghiên cứu về an ninh thông tin, bảo đảm an ninh thông tin vì vậy luôn là một yêu cầu bức thiết hiện nay.
D. Việc xây dựng luật TMĐT ở Việt Nam :
-Thương mại điện tử (TMĐT) về cơ bản là việc ứng dụng các phương tiện điện tử vào hoạt động kinh doanh, thương mại. Hiện nay, mạng lưới Internet phát triển và phổ cập rộng rãi, tạo điều kiện cho hoạt động kinh doanh trực tuyến phát triển và mang lại cho chủ thể kinh doanh những giá trị và lợi ích to lớn. Chủ thể tham gia hoạt động TMĐT bên cạnh việc tuân thủ các quy định trực tiếp về TMĐT, còn phải thực hiện các quy định pháp luật liên quan khác như đầu tư kinh doanh, thương mại, dân sự. Do đó, việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật về TMĐT trở nên cần thiết và cấp bách. Pháp luật về TMĐT được xem là công cụ pháp lý bảo vệ, định hướng chủ thể kinh doanh, tạo ra môi trường kinh doanh thông qua TMĐT an toàn.
- Vì thế chúng ta cần phải đặt ra các nguyên tắc chặt chẽ hơn:
@ Một là, nguyên tắc tự do, tự nguyện thỏa thuận trong giao dịch TMĐT,
@ Hai là, nguyên tắc xác định phạm vi hoạt động kinh doanh trong TMĐT,
@ Ba là, nguyên tắc xác định nghĩa vụ về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong hoạt động TMĐT,
@ Bốn là, nguyên tắc kinh doanh các hàng hóa, dịch vụ hạn chế kinh doanh hoặc hàng hóa, dịch vụ kinh doanh có điều kiện thông qua TMĐT.
- Đấy là một số nguyên tắc nhằm thúc đẩy việc xây dựng TMĐT ở Việt Nam.
*Tóm lại: Trong điều kiện các văn bản pháp luật hiện tại chưa phản ảnh đầy đủ thực tiễn kinh doanh trực tuyến nhưng thực tế TMĐT không chỉ tác động đối với hoạt động thương mại mà còn tác động lên các hoạt động khác của nền kinh tế, chính trị, văn hóa... Do đó, pháp luật về TMĐT là công cụ để cơ quan nhà nước có thẩm quyền áp dụng khi giải quyết các tranh chấp liên quan. Để TMĐT phát huy thế mạnh của mình đồng thời tạo cơ chế thuận lợi cho việc giải quyết các tranh chấp, cần bổ sung thêm các quy định về công nhận giá trị pháp lý của chứng cứ điện tử; cách thức quản lý các mạng xã hội kinh doanh TMĐT cũng như nền tảng di động; đưa ra các chế tài tương ứng với hành vi vi phạm; xây dựng và thừa nhận tính pháp lý cho việc thu thập dữ liệu điện tử bởi cơ quan có thẩm quyền để kịp thời giải quyết tranh chấp TMĐT.
*Hệ thống TMĐT : kinh doanh trong doanh nghiệp
Internet đem lại cơ hội kinh doanh lớn cho doanh nghiệp có thể sẽ gặp phải nhiều khó khăn . Đặc biệt là trong việc thiết lập hệ thống thanh toán cũng như hệ thống quản lý các giao dịch một cách hiệu quả ,tin cậy , an toàn nhất. Song, việc ứng dụng TMĐT hay ứng dụng công nghệ thông tin cho doanh nghiệp phải chú ý đến vấn đề an toàn của hệ thống và dữ liệu. Hệ thống luôn phải sẵn sàng cho người dùng hợp pháp , bất chấp sự tấn công của hệ thống.
- Sự phát triển nhanh chóng của khoa học , công nghệ , đặc biệt là sự phát triển của công nghệ mạng Internet và kỹ thuật tính toán đã làm thay đổi rất nhiều các hoạt động xã hội . TMĐT đã ra đời trong hoàn cảnh đó .Dưới góc độ kinh doanh : TMĐT là quá trình ứng dụng công nghệ vào các quá trình giao dịch kinh doanh và quá trình sản xuất.Theo Tổ chức luật thương mại Quốc tế đưa ra định nghĩa: TMĐT là việc trao đổi thông tin thương mại thông qua các phương tiện điện tử và không cần phải viết ra giấy bất cứ công đoạn nào qua quá trình giao dịch .
Bùng nổ phương thức thanh toán trực tuyến
Các hình thức thanh toán trực tuyến thông qua thẻ ngân hàng, tài khoản thanh toán trực tuyến dạng như Paypal, Payoneer… sẽ phổ biến rộng rãi hơn, bên cạnh đó là các hình thức thanh toán trung gian thường gặp như Ngân Lượng, Bảo Kim, Momo, ZaloPay… giúp cho người dùng thuận tiện hơn trong việc mua và bán, đồng thời tăng sức mua hàng và đơn hàng cho các shop bán hàng. Xu hướng thanh toán trực tuyến tăng trưởng mạnh mẽ khi có đến 21% các giao dịch mua bán hàng hóa, dịch vụ được thực hiện onine; trong đó tỷ lệ nữ giới và nam giới thực hiện thanh toán online lần lượt là 21% và 20%. Bên cạnh đó, tình hình dịch bệnh Covid-19 diễn biến phức tạp và khó lường cũng tạo cơ hội cho việc thanh toán trực tuyến bùng nổ khi việc thanh toán bằng tiền mặt có nhiều rủi ro lây lan virus.
Về an toàn, an ninh mạng, cho Doanh Nghiệp và cả người tiêu dùng.
An ninh mạng và bảo mật cá nhân trong các giao dịch TMĐT ở Việt Nam là vấn đề nan giải lớn cho các nhà quản lý DN và cơ quan quản lý nhà nước. Thời gian qua, Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản pháp luật buộc các DN cung cấp hàng hóa, dịch vụ trong TMĐT không được thực hiện một số hành vi có thể xâm hại tới quyền và lợi ích của người tiêu dùng. Tuy nhiên, pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng chưa có tính khả thi cao nên người tiêu dùng vẫn chịu nhiều thiệt thòi và chưa yên tâm khi mua sắm online.
Số lượng người tham gia mua sắm trực tuyến trên các nền tảng TMĐT tăng vọt. Năm 2019 , cả nước có 39,9 triệu người tham gia mua sắm trực tuyến , tăng 11,8% so với năm 2018 và tăng gần gấp đôi chỉ sau 3 năm . Giá trị mua sắm trực tuyến bình quân đầu người đạt 202USD , tăng 8,6%.
Theo số liệu thống kê và báo cáo cũng cho thấy, số lượng người dùng internet mua sắm trực tuyến tại Việt Nam tăng trưởng mạnh nhưng vẫn thấp hơn các nước trong khu vực. Cụ thể, có 90% người dùng Internet tại Indonesia mua sắm trực tuyến thông qua thiết bị di động, cao nhất Đông Nam Á. Trong khi đó, con số này tại Việt Nam là 70%, thấp nhất Đông Nam Á. Tại Đông Nam Á, trung bình chỉ có 47% DN áp dụng hình thức thanh toán khi nhận hàng (COD), trong khi ở Việt Nam có đến hơn 80% DN hỗ trợ phương thức thanh toán COD. Để thanh toán trực tuyến đi vào đời sống, trở thành thói quen của người dùng, cần có sự liên kết của Nhà nước, hệ thống ngân hàng với các DN TMĐT, nhà cung cấp dịch vụ thanh toán trực tuyến… trong việc thay đổi nhận thức, tạo thói quen của người dùng.
Giải pháp phát triển thương mại điện tử cho doanh nghiệp
- Đẩy mạnh áp dụng các hình thức, phương tiện thanh toán. Xét thực tế ở các DN cho thấy, việc ứng dụng thanh toán điện tử còn nhiều hạn chế trong cả nhận thức, hành động cũng như phương tiện áp dụng. Thói quen dùng tiền mặt vẫn in sâu trong tâm trí của đại đa số người dân, vì thế cho dù công nghệ áp dụng cho việc thanh toán cao đến đâu đi chăng nữa, thì lượng giao dịch thanh toán điện tử vẫn còn hạn chế, tỷ lệ áp dụng thanh toán trực tuyến vẫn chưa cao. Tuyên truyền vận động người dân thanh toán điện tử, sử dụng thẻ tín dụng, ví điện tử… để dần dần làm quen với hình thức thanh toán hiện đại, bỏ thói quen dùng tiền mặt. Xu hướng sử dụng điện thoại thông minh Smartphone càng ngày càng phổ biến trong người dân. Muốn khách hàng sử dụng phương thức thanh toán trực tuyến thay cho tiền mặt thì phải có các công cụ thanh toán online trên di động, tăng tiện ích, sự thuận lợi và dễ sử dụng thì sẽ tăng được số lượng người dùng.
-Nâng cao nhận thức về TMĐT. Đa số DN ở các địa phương hiện nay vẫn chưa tiếp cận và phát triển TMĐT một cách bài bản, phần lớn đều mang tính tự phát nên hiệu quả và khả năng phát huy của TMĐT vẫn còn bị hạn chế. Nhiều DN chưa nhận thức đầy đủ về vai trò, lợi ích của TMĐT, tiềm năng cũng như hạn chế của TMĐT. Phần lớn DN cho rằng, TMĐT đơn thuần chỉ là các ứng dụng của CNTT, hay TMĐT chỉ là làm website giới thiệu về DN. Hạn chế này đã cản trở rất lớn đến sự phát triển của TMĐT trong những năm vừa qua bởi hầu hết các DN chưa xác định rõ ràng mục đích, mục tiêu và chiến lược phát triển TMĐT cả trong ngắn hạn và dài hạn. Do vậy, DN cần chủ động xây dựng đội ngũ cán bộ chuyên trách về TMĐT, cần lựa chọn những cán bộ đã được đào tạo về CNTT, mạng internet và đặc biệt là có am hiểu về TMĐT; Tổ chức các buổi hội thảo nhằm tuyên truyền về lợi ích của TMĐT để từng bước thay đổi tập quán, tâm lý của người tiêu dùng từ chỗ chỉ quen mua sắm trực tiếp tại các siêu thị, các chợ chuyển sang mua sắm qua mạng…
TMĐT dẫn tới cả một phương thức kinh doanh hoàn toàn mới mẻ , tiến hành trong một môi trường biến hóa nhanh chóng và không ngừng trên diện rộng dưới tác động thúc đẩy các biến đổi rất nhanh về công nghệ. Đặc trưng của môi trường TMĐT là các rủi ro , các bất trắc , cái “ được” cái “mất” tiềm tàng nên đưa ra bài toán cần chúng ta khắc phục về vấn đề an toàn an ninh mạng có ảnh hưởng to lớn đến các vấn đề riêng tư và các hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp cũng như thanh toán điện tử trực tuyến để tránh bị đánh cắp thông tin cá nhân.
6, TT. Trạm Trôi, Hoài Đức, Hà Nội. sđt : 032 868 5620


























Sản phẩm đã thêm vào giỏ hàng